Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011

Tru tiên

Tru Tiên kể về một thời đại thần tiên không xác định ở Trung Quốc, với 3 đại phái là Thanh Vân Môn, Thiên Âm Tự và Phần Hương Cốc, đối lập với Ma Giáo. Thanh Vân Môn là lực lượng đứng đầu chính đạo trong thiên hạ.
Nhân vật chính Trương Tiểu Phàm sống ở thôn Thảo Miếu, một làng nhỏ bên dưới chân núi Thanh Vân Môn, có bạn thân là Lâm Kinh Vũ. Trương Tiểu Phàm ngốc nghếch kém cỏi, không thông minh lanh lợi như Lâm Kinh Vũ. Trong 1 lần hai đứa trẻ đang chơi đùa, Tiểu Phàm tình cờ được Phổ Trí (một trong Tứ Đại Thần Tăng của Thiên Âm Tự) cứu thoát khi suýt bị Kinh Vũ vô ý bóp cổ. Đêm xuống, một hắc y nhân bắt cóc Lâm Kinh Vũ chạy đi. Lúc đó có Phổ Trí đã ra tay giải cứu, nhưng bị trúng độc của Thất Vĩ Ngô Công - con rết cực độc trong thiên hạ. Hắc y nhân cho biết mục tiêu của hắn không phải là Lâm Kinh Vũ mà chính là Phệ Huyết Châu - vật chí hung của Ma Giáo đã biệt tích hơn 800 năm - mà Phổ Trí đang phong ấn và giữ lại bên mình. Phổ Trí kinh ngạc khi hắc y nhân dùng Thần Kiếm Ngự Lôi Chân Quyết của Thanh Vân môn đánh tới, nhưng vẫn gắng gượng dùng Đại Phạm Bát Nhã của Thiên Âm Tự chống đỡ, đánh bị thương hắc y nhân, nhưng bản thân cũng sức tàn lực kiệt, chỉ còn chờ chết. Vô tình, Trương Tiểu Phàm lúc này ccũng có mặt và chứng kiến từ đầu tới cuối màn giao đấu của Phổ Trí với hắc y nhân bí ẩn nọ. Lúc sắp mất, Phổ Trí vẫn day dứt vì nguyện ước thống nhất sở học của 2 đại môn phái để tìm ra phương thức trường sinh bất lão chưa thành, liền nghĩ ra cách dạy khẩu quyết Đại Phạm Bát Nhã cho một trong hai đứa bé, hi vọng Thanh Vân Môn sẽ thu nạp, sau này có thể kết hợp tuyệt nghệ của cả hai đại môn pháp, giải đáp được bí ẩn về sự trường thọ. Sau một lúc đắn đo lựa chọn, Phổ Trí chọn Trương Tiểu Phàm vì thấy cậu thật thà, tâm tính kiên định, không quá thông minh dẫn đến dễ bị chú ý như Lâm Kinh Vũ. Sau khi dạy khẩu quyết luyện công xong Phổ Trí đánh ngất Trương Tiểu Phàm.
Lúc tỉnh dậy, Lâm Kinh Vũ (cả đêm bị ngất không biết gì) và Trương Tiểm Phàm kinh hãi khi thấy cả làng mình đã bị giết sạch. Các đệ tử Thanh Vân Môn đi ngang biết chuyện liền đưa hai đứa trẻ lên Thanh Vân Môn. Chưởng môn Thanh Vân Môn Đạo Huyền Chân Nhân một mặt ra lệnh truy tìm kẻ thủ ác, mặt khác cho hai đứa trẻ gia nhập Thanh Vân Môn. Lâm Kinh Vũ thông minh khác thường, được Thương Tùng Đạo Nhân - thủ tọa chi phái Long Thủ Phong - nhận lấy làm đồ đệ, trong khi không ai muốn nhận Trương Tiểu Phàm. Cuối cùng Đạo Huyền Chân Nhân ép thủ tọa Đại Trúc Phong là Điền Bất Dịch, chi phái nhỏ nhất, phải tiếp nhận Trương Tiểu Phàm.
Đại Trúc Phong trước Trương Tiểu Phàm chỉ có 6 đồ đệ, do Điền Bất Dịch và phu nhân là Tô Như đứng đầu. Hai người có 1 cô con gái yêu là Điền Linh Nhi, sớm trở thành người tình trong mộng của Trương Tiểu Phàm. Tuy nhiên mối tình này được Tiểu Phàm giữ kín trong lòng. Trương Tiểu Phàm âm thầm tập luyện cả Đại Phạm Bát Nhã và Thái Cực Huyền Thanh Đạo theo ước nguyện của Phổ Trí, hai phép luyện công này hoàn toàn khác nhau, nếu không muốn nói là hoàn toàn trái ngược về đường lối, nên Tiểu Phàm tiến triển vô cùng chậm chạp, kém xa các huynh đệ đồng môn. Cùng lúc này Lâm Kinh Vũ đã nhanh chóng vươn lên trở thành ngôi sao mới nổi của Thanh Vân Môn. Tuy nhiên do kỳ duyên, Tiểu Phàm vô tình gặp được cây gậy Nhiếp Hồn, là tà vật chí hung trong thiên hạ, Phệ Huyết Châu hút máu của Tiểu Phàm để giao đấu với Nhiếp Hồn, sau đó nhờ máu mà kết hợp lại với nhau. Tiểu Phàm cũng đồng thời thu nhận linh thú Tam Nhãn Linh Hầu, đặt tên là Tiểu Hôi.
Theo thông lệ, Thanh Vân Môn mở kỳ Thất Mạch Hội Võ 60 năm/lần để chọn ra các đệ tử xuất sắc nhất của môn phái. Theo quy định mới các chi phái sẽ đưa ra 9 đệ tử tham dự đại hội. Tề Hạo cùng Lâm Kinh Vũ từ Long Thủ Phong sang Đại Trúc Phong thông báo điều này cho Điền Bất Dịch. Lâm Kinh Vũ trong lúc đùa giỡn đã hơi quá tay, đánh bay Trương Tiểu Phàm, lại còn chọc giận Điền Bất Dịch. Điền Bất Dịch đại triển thần uy, làm Tề Hạo và Lâm Kinh Vũ phát hoảng mà quay về.
Đại Trúc Phong do ít người chỉ cử ra được 8 người, nên đại hội thiếu người, một người được đặc cách miễn đấu vòng ngoài. Trương Tiểu Phàm lại là người bốc trúng lá thăm may mắn đó. Lúc giao đấu, nhờ sức mạnh kì lạ của Phệ Huyết Châu và Nhiếp Hồn [lúc này tạm gọi là Thiêu Hỏa Côn] cùng với nội công độc đáo Đạo - Phật kết hợp với sự may mắn kì lạ, Tiểu Phàm thắng liên tiếp và lọt vào hàng ‘Tứ cường’. Tại vòng này, y đấu với Lục Tuyết Kỳ, nữ đệ tử nhiều triển vọng của Tiểu Trúc Phong. Lục Tuyết Kỳ sử dụng Thiên Gia thần kiếm, vũ khí thần binh nổi tiếng của chính đạo và là khắc tinh của Phệ Huyết Châu. Do hiếu thắng, Lục Tuyết Kỳ bất chấp nội lực non kém đã sử dụng Thần Kiếm Ngự Lôi Chân Quyết, một trong bảy tuyệt kĩ trấn sơn của Thanh Vân Môn. Phản lực của chân quyết suýt giết chết Lục Tuyết Kỳ, nhưng Trương đã bất chấp nguy hiểm để đỡ đòn cho cô. Trương Tiểu Phàm bị ngất xỉu, trong khi Lục Tuyết Kỳ nội lực cạn kiệt vào đến trận cuối cùng thì để thua trước Tề Hạo, đại đệ tử của Long Thủ Phong. Tề Hạo vô địch kỳ Thất mạch hội võ, được Đạo Huyền truyền cho pháp bảo Lục Hợp Kính.
Sự xả thân này bắt đầu khiến Lục Tuyết Kỳ quan tâm tới Trương Tiểu Phàm, và câu chuyện tình của hai người được phát triển xen kẽ những diễn biến chính của tác phẩm. 4 đại đệ tử xuất sắc nhất của Thanh Vân Môn là Tề Hạo, Tăng Thư Thư, Lục Tuyết Kỳ và Trương Tiểu Phàm được cử đến Vạn Bức Cổ Quật - Không Tang Sơn để thám thính nội tình ma giáo. Tại Vạn Bức Cổ Quật, các đệ tử Thanh Vân Môn hợp sức với các nhân tài trẻ tuổi của Thiên Âm Tự và Phần Hương Cốc tấn công dư nghiệt Ma giáo nhưng bị thất bại do sự xuất hiện của Hắc Thủy Huyền Xà.
Tiểu Phàm gặp Bích Dao, con gái của Quỷ Vương Tông chủ, một trong 4 đại tông chủ của Ma giáo. Ma giáo từng bị 3 đại môn phái liên thủ đánh cho tan tác, nhưng sau đó lại tập hợp lực lượng và phát triển thành 4 tông phái riêng rẽ, là Vạn Độc Môn, Trường Sinh Đường, Hợp Hoan Phái và Quỷ Vương Tông, trong đó Quỷ Vương Tông là thế lực đang dần mạnh lên, bắt đầu áp đảo các tổ chức Ma giáo khác. Do bị Hắc Thủy Huyền Xà tấn công, Tiểu Phàm và Bích Dao bị giam trong lòng Tích Huyết Động dưới Vạn Bức Cổ Quật – vốn là căn cứ địa của Luyện Huyết Đường, tông phái thống lĩnh Ma giáo 800 năm về trước (Đường chủ Hắc Tâm lão Nhân là người luyện ra Phệ Huyết Châu), ở đó 2 người đã gặp được Thiên Thư đệ nhất quyển - kinh điển của Ma giáo, và lấy được pháp bảo Hợp Hoan Linh, cũng như Si Tình Chú của Hợp Hoan Phái. 2 người cùng trải qua giờ phút sinh tử trong lòng đất nên dần có tình cảm với nhau.
Sau khi tìm được cách thoát khỏi động, Tiểu Phàm nghe ngóng tin tức, biết được Ma giáo đang tập hợp tại Lưu Ba Sơn ngoài Đông Hải, người bên chính đạo cũng đổ dồn về đó, y liền lên đường. Trên đường đi, y tình cờ gặp ông cháu Chu Nhất Tiên, được đoán một quẻ là có tướng ‘Loạn ma’, vạn người có một, đồng thời cũng gặp Vạn Nhân Vãng - Tông chủ Quỷ Vương Tông, cha của Bích Dao, và là một người bạn của Chu Nhất Tiên. Y được Vạn Nhân Vãng giảng giải về nguồn gốc của Phệ Huyết Châu và Nhiếp Hồn, trong lòng lại dấy lên mối nghi hoặc về định nghĩa của Chính – Tà trong thiên hạ. Y tiếp tục lên đường, rồi cùng Thạch Đầu giúp dân Tiểu Trì trấn tiêu diệt Tam Vĩ Yêu Hồ - trong trận đánh này Tiểu Phàm may mắn có được pháp bảo trấn cốc lâu năm của Phần Hương Cốc là Huyền Hỏa Giám – thần khí của Vu tộc từ thời thượng cổ.
Tại Lưu Ba Sơn diễn ra một trận đánh ồn ào giữa chính đạo và Ma giáo, về hàng trưởng lão chỉ có Thương Tùng Đạo Nhân và phu phụ Điền Bất Dịch, nên mọi sự do Thanh Vân Môn lãnh đạo. Các lão già của Ma Giáo như Hấp Huyết Lão Yêu, Đoan Mộc Lão Tổ, Bách Độc Tử đều xuất thế, với đệ tử tinh anh của Ma Giáo tấn công chính đạo. Tuy Điền Bất Dịch đại triển thần uy, đánh Hấp Huyết Lão Yêu khốn đốn, nhưng đệ tử ma giáo quá đông, bên chính đạo khó bề chống đỡ. Tại một mặt khác của Lưu Ba Sơn, chúng đồ Quỷ Vương Tông bày bố trận pháp, vây bắt cự thú Quỳ Ngưu. Tiểu Phàm vô tình bị Quỳ Ngưu ép xuống, sắp mất mạng, liền liều mình dùng Đại Phạm Bát Nhã chống đỡ. Cuối cùng, Quỷ Vương Tông cũng bắt được Quỳ Ngưu, còn Tiểu Phàm, tuy thoát chết, nhưng lại gây nên sóng gió trong chính đạo.
Khi về Thanh Vân, sau khi điều trị thương tích, Tiểu Phạm bị các vị sư tôn tra hỏi về nguồn gốc chân pháp Đại Phạm Bát Nhã trên người y. Phổ Hoằng Thần Tăng - phương trượng Thiên Âm Tự - cùng Phổ Không Thần Tăng cũng có mặt, đủ thấy sự việc hệ trong mức nào. Thượng Quan Sách bên Phần Hương Cốc cũng ra mặt, mang danh là đi hỏi về Huyền Hỏa Giám bị mất dưới Vạn Bức Cổ Quật. Sau một hồi tra hỏi, Tiểu Phàm vẫn không hé môi. Đúng lúc này, Đạo Huyền Chân Nhân bị ám toán bằng Thất Vĩ Ngô Công để sẵn trên thanh Thiêu Hỏa Côn (vốn đã bị tịch thu ngay khi trở về Thanh Vân), lại bị Thương Tùng đâm một dao làm trọng thương. Bất ngờ, tứ đại Tông chủ Ma giáo dẫn đồ đệ tập kích lên Thanh Vân. Thượng Quan Sách bên Phần Hương Cốc ám toán Phổ Hoằng Thượng Nhân, làm ông bị thương, thật ra hắn là thích khách Chu Ẩn của Quỷ Vương Tông cài vào, người của Phần Hương Cốc thật sự không hề có mặt.
Hai vị cao nhân đứng đầu thiên hạ đều đã bị thương, chiến sự nổ ra ngay trên Ngọc Thanh Điện. Môn hạ Thanh Vân Môn và Thiên Âm Tự cùng dốc sức cự địch, hiềm nỗi lực lượng Ma Giáo áp đảo, Thanh Vân Môn lại ở vào thế bị động ra sức chống đỡ. Linh thú trấn sơn Thủy Kì Lân tham chiến cũng bị Độc Thần – Môn chủ Vạn Độc Môn và Tam Diệu Tiên Tử - Tông chủ Hợp Hoan Phái bức phải thoái lui. Đạo Huyền Chân Nhân gượng sức, đi đến Huyễn Nguyệt Động Phủ thỉnh xuất Tru Tiên Cổ Kiếm. Lâm Kinh Vũ và Trương Tiểu Phàm đi theo hộ giá, vô tình dẫn dụ bọn Chu Ẩn về phía Nhà thờ Tổ nơi hậu sơn. Tại đây, Lâm Kinh Vũ vô tình gặp một lão tiền bối đạo hạnh cao thâm, ông ta dùng Trảm Long Kiếm xuất thần nhập hóa, đánh tan tác bọn thích khách cao thủ. Sau này, Lâm Kinh Vũ luôn ở Nhà thờ Tổ, nhờ ông lão dạy cho kiếm pháp. Ông lão đó chính là Vạn kiếm nhất, nguyên nhân gây ra sự phản trắc của Thương Tùng.
Tru Tiên kiếm được huy động, khởi phát Tru Tiên kiếm trận uy lực kinh hồn trên Thông Thiên Phong, chúng đồ Ma Giáo tử thương vô số, Đường chủ Trường Sinh Đường là Ngọc Dương Tử cũng bị kiếm khí chặt đứt một cánh tay lúc mở đường máu đào thoát. Tuy lấy lại được thế thượng phong, nhưng Thanh Vân môn cũng bị tổn hại: thủ tọa, trưởng lão mất đi một nửa, đệ tử tử thương không ít, Đạo Huyền Chân Nhân cũng bị hao tổn không ít chân khí, ngất đi chốc lát. Khi ông tỉnh lại, Phổ Hoằng Thượng Nhân mới tiết lộ một bí mật: vụ án thảm sát tại Thảo Miếu thôn năm xưa là do chính Phổ Trí trong lúc quẫn bách gây ra, để tạo điều kiện cho Tiểu Phàm và Kinh Vũ gia nhập Thanh Vân Môn; cũng chính Phổ Trí đã truyền Đại Phạm Bát Nhã cho Trương Tiểu Phàm, với mong ước hợp nhất Phật - Đạo, tìm đường đến cõi trường sinh.
Bích Dao đột ngột xuất hiện, đòi dẫn Tiểu Phàm về Ma Giáo, điều này đã làm Thanh Vân Môn bất ngờ, lại thêm Quỷ Vương Tông chủ, vì không thấy con gái, đã dẫn môn hạ Quỷ Vương Tông lên lại đỉnh Thông Thiên, sau đó, 3 tông phái kia cũng xuất hiện theo. Đạo Huyền gượng sức, huy động Tru Tiên kiếm trận lần nữa, nhưng lần này là để chém chết Trương Tiểu Phàm. Bích Dao liều mình dùng Si Tình Chú đỡ đòn cho y, nhờ có Hợp Hoan Linh nhiếp lại một hồn nên không chết, nhưng hôn mê vĩnh viễn.
Đau khổ, Trương Tiểu Phàm gia nhập Quỷ Vương Tông và trở thành Quỷ lệ, phó tông chủ Quỷ Vương Tông, hay trong Ma Giáo còn có biệt hiệu là Huyết công tử, cùng với Độc công tử Tần Vô Viêm của Vạn Độc Môn và Diệu công tử Kim Bình Nhi của Hợp Hoan Phái, xưng là ‘Tam công tử’ – 3 nhân vật xuất sắc thuộc lớp trẻ Ma Giáo. Quỷ Lệ được biết đến bởi thủ đoạn tàn độc. Quỷ Vương Tông lúc này phát triển trở thành thế lực có sức mạnh áp đảo , tiêu diệt và sáp nhập tất cả các tổ chức nhỏ lẻ khác trong nội bộ Ma Giáo. Quỷ lệ trở thành nhất đại chiến tướng của Quỷ Vương, được Quỷ Vương truyền cho Thiên Thư đệ nhị quyển và được cử đến Tử Trạch tìm pháp bảo mới xuất hiện, cùng với 3 tông phái khác với sự trợ lực vô tình của bên chính đạo, đã tiêu diệt Trường Sinh Đường, đồng thời y cũng gặp lại những người quen cũ như Lục Tuyết Kỳ, Lâm Kinh Vũ, Chu Nhất Tiên,… và tại Thiên Đế Bảo Khố học được Thiên Thư đệ tam quyển. Hai trong số Tứ đại thánh sứ của Quỷ Vương Tông cũng đến Tử Trạch để bắt chim thần Hoàng Điểu.
Môn hạ của Quỷ Vương Tông bị ngư nhân – 1 trong 63 dị tộc vùng Thập Vạn Đại Sơn ở biên thùy phương nam – ám sát, để điều tra việc này, Quỷ Lệ phải xuống phía nam, thâm nhập Phần Hương Cốc, tình cờ dùng Huyền Hỏa Giám giải thoát cho Cửu Vĩ Thiên Hồ, phá hủy luôn cả Bát Hung Huyền Hỏa Trận trong Huyền Hỏa Đàn. Cửu Vĩ Thiên Hồ - Tiểu Bạch tiết lộ về kì thuật hoàn hồn của Vu tộc phương nam, thế là cả hai cùng lên đường đi Nam Cương.
Vu tộc cổ đại chia làm 5 nhánh: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Người có khả năng dùng Hoàn hồn dị thuật là Đại pháp sư Kim tộc đương thời. Do sự tranh chấp thánh khí, Mộc tộc – được sự trợ giúp của Thú Yêu – tấn công Kim tộc. Đại pháp sư ra sức chống đỡ, tuy đẩy lùi được Mộc tộc, nhưng thánh khí bị cướp mất, và ông cũng trọng thương. Đại pháp sư tiết lộ truyền thuyết về Vu tộc cổ đại và nguồn gốc Thú Yêu, hi vọng rằng sau khi ông giúp hồi sinh Bích Dao, Quỷ Lệ sẽ giúp ngũ tộc diệt trừ Thú Yêu, phục hồi Vu tộc. Tuy nhiên, sau nỗ lực to lớn để đến được trung nguyên và gần sắp cứu được Bích Dao, Đại pháp sư tàn sức, đã qua đời.
Sự xung đột ngấm ngầm từ lâu của ngũ tộc, đặc biệt là sự nổi dậy của Mộc tộc, đã bị Thú Yêu – Thú Thần Đại Vương – lợi dụng để hồi sinh. Thú Thần tập hợp các chủng còn lại của 63 dị tộc vùng Thập Vạn Đại Sơn, với vô số các loài dị thú khác tấn công vào trung nguyên. Đúng lúc này, Môn chủ Vạn Độc Môn là Độc Thần qua đời, tạo nên cục diện khác trong Ma Giáo. Quỷ Vương Tông chủ lợi dụng tình thế đó, thí hơn ½ đệ tử Quỷ Vương Tông để mượn tay Thú Thần tiêu diệt lực lượng Vạn Độc Môn và Hợp Hoan Phái, đồng thời đưa toàn bị lực lượng chủ chốt lên Man Hoang lánh nạn.
Vân Dịch Lam – Cốc chủ Phần Hương Cốc – bế quan luyện đạo đã lâu, nay lại xuất sơn, liền chuẩn bị đến thăm Thanh Vân sơn, nhằm mục đích lôi kéo toàn bộ chính đạo vào cuộc chiến với Thú Thần. Lực lượng chính đạo tụ họp tại Thanh Vân sơn, dưới sự lãnh đạo của tam đại phái, hi vọng Tru Tiên kiếm trận – niềm hi vọng cuối cùng – có thể diệt được Thú Thần, cứu nguy thiên hạ. Đạo Huyền Chân Nhân cho các thủ tọa mở hết Thiên Cơ ấn, vốn dùng để phong bế sát khí của mạch núi Thanh Vân, tăng cường uy lực cho Tru Tiên kiếm trận, quyết dốc sức cho cuộc đại chiến. Điền Bất Dịch tỏ ra quan ngại về việc này.
Đoàn quân yêu thú dưới sự lãnh đạo của 13 yêu vương, sau khi đánh Ma Giáo, liền kéo đến Thanh Vân, đi đến đâu giết sạch đến đấy, đánh nhau tơi bời với nhân sĩ chính đạo trên Thanh Vân sơn. Khi 13 yêu vương bị tiêu diệt sạch, Thú Thần gom xác chúng lại, biến ra một con quái khổng lồ. Vân Dịch Lam dùng thuật lạ của Ngọc Dương Cảnh giới trong Phần Hương Ngọc Sách đốt nám hơn ½ bộ xương đó. Phổ Hoằng Thượng Nhân dùng chân pháp tối thượng Đại Phạm Bát Nhã ép tan chướng khí quanh con quái, nhưng cả hai vị đều lần lượt bị đánh bại. Đạo Huyền Chân Nhân thỉnh xuất Tru Tiên cổ kiếm, huy động Tru Tiên kiếm trận, với quy mô rộng hơn kiếm trận năm xưa – trải khắp dãy Thanh Vân. Uy lực chém thần trảm quỷ, tru sát trời đất của Tru Tiên kiếm trận tuy đánh Thú Thần trọng thương, tháo chạy về Thập Vạn Đại Sơn, nhưng khí dữ của nó lại ảnh hưởng ngược đến người cầm kiếm, làm thần trí Đạo Huyền bị tổn hại.
Quỷ Lệ có mặt tại hậu sơn Thanh Vân với ý định đột nhập Huyễn Nguyệt Động Phủ, Quỷ Tiên Sinh của Quỷ Vương Tông cũng theo y lên đây, cả hai gặp sự ngăn cản của Vạn Kiếm Nhất, xảy ra một trận chiến kinh hồn. Vạn Kiếm Nhất đã dồn ép Quỷ Lệ sắp bại trận, nhưng lại bị Quỷ Tiên Sinh ám toán, trọng thương mà chết, Quỷ Lệ được sự chỉ điểm của Quỷ Tiên Sinh, vào được Huyễn Nguyệt Động Phủ. Lâm Kinh Vũ tình cờ chạy đến, thấy thi hài Vạn Kiếm Nhất, cơn giận bốc lên, tìm kiếm khắp nới, cuối cùng cũng vào Huyễn Nguyệt Động Phủ. Cả hai giáp mặt, suýt đành nhau nhưng Lục Tuyết Kỳ đột ngột xuất hiện, làm thay đổi cục diện. Tru Tiên kiếm từ trên trời rơi xuống Huyễn Nguyệt Động Phủ, Quỷ Lệ cầm lên, định phá hủy, nhưng lại tình cớ khám phá ra bí mật của cổ kiếm: Tru Tiên kiếm hút lấy tinh lực và đạo hạnh của đối phương, mạnh hơn cả Phệ Huyết Châu, vốn chỉ hút tinh lực mà thôi. Tru Tiên kiếm hút lấy máu và công lực của Quỷ Lệ, nhưng nhờ có Thái Cực Huyền Thanh Đạo, kết hợp với Đại Phạm Bát Nhã, đạo pháp Thiên Thư, Huyền Hỏa Giám, và pháp bảo Phệ Hồn bổng mới chật vật chặt gãy được Tru Tiên kiếm, chạy thoát ra ngoài. Sự việc Tru Tiên kiếm bị gãy chỉ có một số ít môn đồ Tiểu Trúc Phong và Đại Trúc Phong chứng kiến, tạm thời không truyền ra ngoài.
Thanh Vân Môn cử người lùng sục khắp núi để tìm Quỷ Lệ. Tại khu vực tìm kiếm của Tăng Thúc Thường – thủ tọa Phong Hồi Phong, Quỷ Lệ bị tìm ra, nhưng lại được một nhóm hắc y nhân bí ẩn, võ công cực cao cứu thoát. Khi tỉnh lại, Quỷ Lệ đang ở Thiên Âm Tự, lúc này y mới biết là Thiên Âm Tự cứu mình. Sau khi tĩnh dưỡng, Phổ Hoằng Thượng Nhân cho y tùy ý định đoạt với nhục thân của Phổ Trí, sau đó quyết định dùng đại lực thần thông của pháp trận ‘vòng Kim Cương’ tại thánh địa Thiên Âm Tự – Vô Tự Ngọc Bích – để hóa giải khí dữ trong người. Điều đó vô tình dẫn dụ thiên hình (sấm sét của trời), muốn đánh chết Quỷ Lệ, trong lúc đó trên vách ngọc xuất hiện Thiên Thư đệ Tứ quyển. Thiên hình đánh xuống Quỷ lệ, Vô tự ngọc bích đã cứu quỷ lệ và bị đánh vỡ.
Sau khi vô tình lĩnh hội Thiên Thư đệ Tứ quyển, Quỷ Lệ lên đường xuống Nam Cương để bắt cự thú Thao Thiết bên cạnh Thú Thần về cho Quỷ Vương Tông chủ. Bên chính đạo cũng cử những đệ tử tài giỏi xuống phương nam để tìm diệt Thú Thần. Tiểu Bạch cũng đã ở bên cạnh Thú Thần từ khi hắn chạy về đây, với mục đích tìm hiểu về trận pháp Bát Hung Huyền Hỏa do chính tay Vu nữ nương nương Linh Lung – người mà Thú Thần yêu đơn phương – bày trí để tiêu diệt Thú Thần. Cũng từ đó mà Tiểu Bạch biết được: Thú Thần sau khi hồi sinh không còn là bất tử nữa, mà đã trở thành con người, và đã có thể chết được. Thú Thần dùng Tụ Hỏa bồn khởi động Bát Hung Huyền Hỏa trận, kêu gọi rồng lửa bát hoang thiêu rụi tất cả, và hắn cũng được hội ngộ với Linh Lung ở cõi vĩnh hằng.
Quỷ Lệ và Lục Tuyết Kỳ hội ngộ tại Trấn Ma động – nơi ở của Thú Thần – cùng nhau phá trận, rồi lại chia tay. Lục Tuyết Kỳ trở về Thanh Vân mới biết được biến cố đã xảy ra: Điền Bất Dịch sau khi nghe nói về hành vi cổ quái của Đạo Huyền, đã âm thầm lên Thông Thiên Phong tìm gặp ông ta, không ngờ cả hai cùng mất tích, sau trận chiến long trời lở đất khiến Nhà thờ Tổ tan hoang. Thủy Nguyệt Đại Sự tiết lộ cho nàng bí mật của Thanh Vân Môn: Tru Tiên kiếm chứa khí dữ bạo ngược của trời đất, mỗi lần sử dụng sẽ khí dữ bị xâm hại, ảnh hưởng thần trí lẫn đạo hạnh tu hành, vì vậy tuyệt đối không được sử dụng lúc không nguy cấp. Trong trận chiến Chính – Ma hơn 100 năm trước, sư phụ của Đạo Huyền và Vạn Kiếm Nhất là Thiên Thành Tử đã sử dụng Tru Tiên kiếm trận, sau đó trở nên điên loạn, Đạo Huyền và Vạn Kiếm Nhất phải tự tay giết sư phụ của mình, và bà muốn Lục Tuyết Kỳ đi điều tra, và khi gặp phải kẻ đã nhập ma đạo, thì phải giết kẻ đó.
Quỷ Lệ đem Thao Thiết về cho Quỷ Vương Tông chủ, do hiểu lầm mà 2 người đã đánh nhau, nếu không có sự can thiệp của U Cơ – Thánh sứ Chu Tước – thì không biết hậu quả sẽ ra sao. Quỷ Lệ rời khỏi Hồ Kỳ sơn, về thăm lại Thảo Miếu thôn đổ nát năm nào. Quỷ Vương Tông chủ cũng đã bắt được dị thú Chúc Long tại Ma điện trên Man Hoang, tập họp đủ Tứ Linh, luyện Tứ Linh Huyết Trận. Sau đại họa Thú Thần, tuy hắn đã bị thương, nhưng yêu thú thỉnh thoảng vẫn quấy nhiễu dân lành. Ông cháu Chu Nhất Tiên bị yêu thú bắt đi, Dã Cẩu Đạo Nhân hi sinh mạng mình để giải cứu cho họ. Tiểu Hoàn thi triển ‘Thu hồn thuật’ để cứu sống Dã Cẩu, Quỷ Tiên Sinh tình cờ chứng kiến, sau đó liền truyền thuật pháp Quỷ Đạo mà ông ta tu luyện lại cho Tiểu Hoàn, mong TIểu Hoàn sau này có thể hồi sinh Bích Dao, mặc cho Chu Nhất Tiên lo ngại. Trong lúc đi ngao du khắp thiên hạ, bọn Chu Nhất Tiên đến một nghĩa trang gần thôn Thảo Miếu nghỉ chân qua đêm, vô tình đụng phải Đạo Huyền Chân Nhân – lúc này đã bị ma linh khống chế. Bọn họ bi Đạo Huyền giam vào mấy cỗ quan tài trong nghĩa trang, chung với Điền Bất Dịch.
Vu tộc cổ đại còn sót lại duy nhất một người: Vu Yêu, hiện đang chạy trốn sự truy đuổi của Thượng Quan Sách. Tiểu Bạch phát giác sự việc, liền đuổi theo hai người bọn họ. Tất cả vô tình tụ hội tại nghĩa trang kì bí nọ. Sau khi giao đấu với Tiểu Bạch, Thượng Quan Sách thua, bỏ chạy mất, Tiểu Bạch bắt Vu Yêu khai ra nguồn gốc huyền hỏa, rồi lại cùng với Lục Tuyết Kỳ giải thoát ông cháu Chu Nhất Tiên, Điền Bất Dịch ra khỏi mấy cỗ quan tài. Chỉ còn lại Lục Tuyết Kỳ và Điền Bất Dịch ở lại nghĩa trang chờ Đạo Huyền trở về.
Quỷ Lệ đang ở tại phế tích thôn Thảo Miếu, phát hiện có người hút âm ma nơi đây để luyện tà thuật, liền đuổi theo, thì ra đó là Đạo Huyền – sau khi đã nhập ma, dùng âm hồn để luyện ‘Huyền Âm Quỷ Khí’. Hắn đuổi theo Đạo Huyền, đến nghĩa trang nọ. Điền Bất Dịch, Lục Tuyết Kỳ, Quỷ Lệ cùng liên thủ đánh với Đạo Huyền, nhưng bất phân thắng bại. Điền Bất Dịch bị đạo Huyền dùng Tru Tiên đâm chết, lại thêm kì thuật ‘Tru Tâm tỏa’ khống chế thể xác, lão liến quay ra đánh Quỷ Lệ. Lục Tuyết Kỳ dùng Thiên Gia đâm thẳng vào tim Điền Bất Dịch, hóa giải tà khí, đồng thời kết thúc luôn cả sự sống vật vờ của lão. Đạo Huyền nhất thời kinh động, chạy mất. Quỷ Lệ đưa thi thể Điền Bất Dịch về Đại Trúc Phong, Tô Như vì quá thương chồng mà tự vẫn theo. Quỷ Lệ đau khổ đến Hà Dương thành, gặp lại Chu Nhất Tiên, được lão chỉ điểm, hắn liền đến Thiên Âm Tự mượn ‘Càn Khôn Luân Hồi Bàn’ để thử hồi sinh Bích Dao. Cùng lúc này, Tứ Linh Huyết Trận đột ngột có dị biến. Càn Khôn Luân Hồi Bàn hay Tinh Bàn, vốn là pháp khí từ thời thượng cổ, lại chính là chìa khóa phong bế Càn Khôn Tỏa trên Phục Long Đỉnh, gây cản trở Tứ Linh Huyết Trận luyện thành. Do ảnh hưởng của Huyết Trận, Môn hạ Quỷ Vương Tông dần trở nên dễ hoảng loạn, hung tàn hiếu sát, Hồ Kỳ sơn cũng dần trở nên yếu ớt, sắp sụp đổ. Sau khi Quỷ Tiên Sinh tìm ra chìa khóa giải trừ Càn Khôn Tỏa trên Tinh Bàn, mở ra cửa nối với cõi Tu La, ông ta bị chính Huyết Trận giết chết, Hồ Kỳ sơn sụp đổ, xác Bích Dao biến mất. Quỷ Lệ suy sụp tinh thần, về lại Thảo Miếu thôn. Tiểu Bạch từ Nam Cương trở về sau khi tìm được nguồn gốc của huyền hỏa, liền đánh Quỷ Lệ một trận để nhắc nhở hắn rằng: Bích Dao đã chết rồi!
Quỷ Vương Tông chủ huy động sức mạnh của Tứ Linh Huyết Trận, khống chế tâm trí dân lành và cả người bên chính đạo, lập thành một đội quân hùng hậu hơn cả đội quân yêu thú trước kia, cùng tấn công lên Thanh Vân sơn. Đạo Huyền Chân Nhân không có mặt, các thủ tọa của Thanh Vân môn chỉ còn sót lại vài người, Phần Hương Cốc vắng mặt, mọi việc lúc này đều do Phổ Hoằng Thượng Nhân chỉ đạo. Mất đi Tru Tiên kiếm trận, chính đạo ra sức chống đỡ một cách chật vật. Thủy Nguyệt Đại Sư bảo Lục Tuyết Kỳ hãy rời khỏi Thanh Vân để đến với Trương Tiểu Phàm nhưng nàng không chịu đi, bà bị môn hạ Quỷ Vương Tông đâm chết ngay sau đó.
Quỷ Lệ chợt đến hậu sơn Thanh Vân, vào Huyễn Nguyệt Động Phủ, gặp lại Đạo Huyền Chân Nhân tại nơi này. Đạo Huyền dùng Tru Tiên kiếm, thúc động Tru Tiên kiếm trận để đánh chết Quỷ Lệ, nhưng linh hồn Vạn Kiếm Nhất đột ngột xuất hiện, hóa giải tâm ma của Đạo Huyền, đưa ông ta theo về cõi vĩnh hằng. Quỷ Lệ được sự thôi thúc của Tru Tiên kiếm – chính là Thiên Thư đệ Ngũ quyển – liền thỉnh xuất Tru Tiên kiếm ra ngoài, giao đấu với Tứ Linh Huyết Trận.
Bản thân sử dụng nhuần nhuyễn Thái Cực Huyền Thanh Đạo và Đại Phạm Bát Nhã, lại thêm đạo pháp của Thiên Thư toàn văn, Quỷ Lệ huy động Tru Tiên kiếm xuất thần nhập hóa, đánh bại Quỷ Vương Tông chủ. Sau trận đánh, Quỷ Lệ lại trở về là một Trương Tiểu Phàm bình dị, sống ở Thảo Miếu thôn dưới chân núi Thanh Vân với con khỉ Tiểu Hôi và con chó Đại Hoàng.
Bộ truyện kết thúc bằng cảnh Trương Tiểu Phàm và Lục Tuyết Kỳ gặp nhau dưới chân núi Thanh Vân, trong tiếng chuông Hợp Hoan Linh ngân nga theo gió.

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

Biển Đông dậy sóng và hành động của chúng ta

Gần đây Biển Đông dậy sóng, cùng với sự hung hăng ngày một tăng của Trung Quốc sau một thời kỳ dài tích lũy thành công về kinh tế và kèm theo đó là quân sự. Cái đất nước hiếu chiến được sinh tồn dựa trên triết lý "Nhất thống thiên hạ" ấy sẽ không bao giờ dừng lại. Nếu có đủ nguồn lực để thực hiện dã tâm, có lẽ dân Trung Quốc chỉ chịu dừng lại khi họ nhất thống toàn bộ địa cầu. Nói có vẻ hơi hoang đường, nhưng cái đó phản ánh đúng bản chất của người Trung Quốc.

Phân tích và ước đoán về các chiến lược của Trung Quốc hoàn toàn không khó. Hầu hết các dự đoán anh đưa ra từ rất lâu về các bước đi của Trung Quốc đều đã thành hiện thực. Có thể tìm thấy chúng ở đây, ngay tại Blog này và nhiều bài viết rải rác trên net mà hiện chúng tồn tại ở đâu chính anh cũng đéo biết. Hơn bất cứ dân tộc nào, người Việt Nam, với tư cách một dân tộc phải đánh trả những đợt tấn công xâm lược của người Trung Hoa trong suốt nhiều thế kỷ, hiểu hơn bất cứ ai về bản chất của dân Trung Hoa.

Không nên lừa phỉnh nhau dân Trung Hoa phần lớn ưa hòa bình, dã tâm xâm lược chỉ ở một số chóp bu cai trị. Dân tộc nào sẽ dựng lên chính quyền đó, nhất là khi Trung Quốc có truyền thống tiến hành các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau và xâm lược ra bên ngoài trong suốt lịch sử tồn tại của nó. Phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, cái triết lý làm người cốt lõi của dân Trung Quốc, được nhồi nhét trong đầu ngay khi mới sinh ra, là tư tưởng "Nhất thống thiên hạ".

Họ sẽ đánh nhau, sẽ xâm lược bất cứ ai, miễn là họ đủ mạnh để làm điều đó.

Trái với lẽ thường, anh Lãng không góp lời về các sự kiện đang diễn ra. Đơn giản bởi anh không muốn làm một việc thừa. Sự quan tâm của người Việt Nam hiện nay đối với vấn đề chủ quyền lãnh thổ, đã đạt tới tầm mức mà anh Lãng hài lòng. Và hơn thế, các động thái gần đây của chính phủ Việt Nam, tuy muộn màng, nhưng đúng đắn. Anh ủng hộ các phản ứng đó một cách âm thầm. Nhận xét từ lâu của anh về chính thể này vẫn là: "Một chính thể tham nhũng, nhưng ái quốc". Chính vì thế, anh giữ im lặng về những sự kiện sôi động đang diễn ra gần đây, bởi góp thêm lời, chỉ là một việc thừa.

Nhận định của anh về nhân vật Nguyễn Chí Vịnh, kể từ khi ông ta bước ra khỏi bóng tối quyền lực, đến giờ cũng đã được minh chứng phần nào bằng thực tế. Có lẽ còn rất lâu Việt Nam mới đạt tới tiêu chuẩn văn minh, nhưng những lúc nước sôi lửa bỏng, cũng là lúc mà lợi ích cá nhân phần nào được gác lại và những giá trị cao cả hơn được dịp lên ngôi.

Con đường để chống lại dã tâm xâm lăng của Trung Quốc, không nằm ngoài những gì anh Lãng đã từng vạch ra. Vì tuổi già, sức yếu lại thêm bệnh lười nên anh dí dái thèm gõ lại.

Chúng ta đang đứng ở một kỷ nguyên đầy thử thách, khi số phận dân tộc đang được cân đo. Bất cứ một nỗ lực nào của Việt Nam ngày hôm nay, sẽ quyết định vận mệnh dân tộc trong ngày mai. Tương quan sức mạnh Việt Nam - Trung Quốc là khoảng cách có tính thế hệ, nhưng khi đặt tương quan ấy trong bối cảnh phức tạp của thế giới ngày nay, khoảng cách không còn quá đáng sợ, và cốt yếu hơn, nếu đặt tương quan ấy trước lịch sử đề kháng ngoại xâm trải qua vài chục thế kỷ của người Việt, thì sự chênh lệch ấy không còn là điều mà một dân tộc có lịch sử hiển hách đáng phải cúi đầu. Nếu lịch sử của Trung Quốc là lịch sử xâm lăng, thì chính dân tộc Việt Nam, lại ghi dấu ấn của mình bằng những trang sử chống ngoại xâm oanh liệt.

Cố nhiên, giữ đất nước có thể bằng sức mạnh, nhưng hơn hết vẫn phải bằng cái đầu, và cái đầu ấy phải là một cái đầu lạnh nhưng đầy nhiệt huyết. Trung Quốc sẽ bị chặn lại khi mọi dã tâm của nó phơi bày và buộc thế giới phải nhìn nó với đầy sự e dè.

Trung Quốc ngày một hung hăng hơn khi nó mạnh lên, điều đó đã được tính toán trước, nhưng đó cũng chính là lúc nó dễ phạm sai lầm. Trên thực tế Trung Quốc đang phạm nhiều sai lầm chiến lược thay vì thành công trên con đường thực hiện dã tâm xâm lăng xuống phía nam của nó.

Hơn thế, Trung Quốc không quá đáng sợ như người ta vẫn tưởng. Đành rằng TQ là một cường quốc hạt nhân, nhưng chắc chắn nó không thể sử dụng vũ khí đánh ai. Những năm 60, khi Liên Xô, bấy giờ đang gần đạt tới đỉnh cao quyền lực, dự định tấn công một loạt thành phố của Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử, chính Mỹ đã chặn Liên Xô lại với lời đe dọa: "Nếu LX đơn phương dùng vũ khí hạt nhân, Mỹ sẽ tấn công đồng loạt 162 thành phố của Liên Xô". Lúc bấy giờ quan hệ Mỹ - Xô - Trung đang là ba cực của mối thâm thù, khi Mỹ Xô đang trong cuộc chiến tranh lạnh ác liệt, và Mỹ vừa choảng nhau chí chết với Trung Quốc ở Triều Tiên. Mỹ chặn Liên Xô không phải vì ưa gì Trung Quốc, chỉ đơn giản cái đất nước ấy không thể chấp nhận nổi việc một quốc gia hạt nhân khác đơn phương dùng đến vũ khí hạt nhân, bởi hôm nay của người khác có thể chính là ngày mai của họ. Với tương quan thế giới ngày nay, có thể nói TQ chẳng thể dọa gì ai với kho hạch tâm còn rất nghèo nàn của nó.

Trung Quốc rất mạnh, với năng lực sản xuất đáng gờm, xuất siêu với hàng loạt quốc gia và vững bước trở thành quốc gia dẫn đầu quy mô GDP trong ít năm tới. Thế nhưng chính đó cũng là điểm yếu chí mạng của TQ, khi nó phụ thuộc quá lớn vào các nguồn tài nguyên bên ngoài. Eo biển Mallaca, sẽ vẫn là một yếu điểm chí mạng của TQ trong ít nhất vài chục năm tới. Mà thật không may, lãnh thổ Việt Nam với bờ biển dài bao trọn biển Đông, với các căn cứ không hải quân ở phần cực Nam lãnh thổ, vốn nằm ngoài tầm với của Không - Hải quân TQ,  lại có khả năng khóa chặt eo Mallacca nếu thực sự bị đẩy đến bước đường cùng. Sẽ thế nào nếu toàn bộ đường vận tải dầu khí và hàng hóa của TQ bị chặn lại khi chiến tranh Trung - Việt nổ ra? Đất nước to lớn ấy chắc chắn sẽ cạn kiệt dầu trong không quá 6 tháng đánh nhau, và bước đến giai đoạn suy tàn. Một cuộc chiến với Việt Nam, dù là với bất cứ đối thủ nào, đều sẽ phải kéo dài tới vài thập kỷ, Mỹ, Pháp hiểu điều này hơn bất cứ ai, và Trung Quốc thì lại càng hiểu hơn bất cứ ai trong số đó.

Hơn nữa, cái logic rất đơn thuần với các nước xung quanh tại Đông Nam Á: Những gì TQ làm với Việt Nam ngày hôm nay, sẽ là ngày mai đối với họ một khi TQ giải quyết xong câu chuyện Việt Nam. Thậm chí điều này đúng với mọi cường quốc khác trong khu vực gồm Nhật Bản, Ấn Độ và vị trí thống trị của Hoa Kỳ. Ai cũng nhìn thấy một logic tất yếu, giúp Việt Nam trụ vững cũng là giúp chính họ. Chúng ta không lo thiếu bạn khi có quá nhiều giá trị chung để chia sẻ.

Hơn bất cứ lúc nào, người Việt Nam cần xiết chặt tay nhau trước hiểm họa chủ quyền, chiến tranh rất khó xảy ra bởi cầm quyền ở Trung Quốc là một đám con bò nhưng cũng đầy nham hiểm, có thể ngu hơn anh Lãng nhưng sự đê tiện chắc chắn nhiều hơn. Đây chính là lúc các ván bài tổng hợp cần được phát huy, mà sự quật cường dân tộc đóng một vai trò không nhỏ. Chiến tranh chắc chắn không xảy ra, nếu người Việt Nam đòan kết, có đủ dũng khí chấp nhận nó và có đủ sức mạnh để lao vào cái địa ngục ấy.

Nguy nan cũng chính là cơ hội. Thật ra đây lại chính là lúc anh Lãng nhìn thấy thời cơ để Việt Nam thoát khỏi vũng lầy. Thể chế chắc chắn sẽ có sự tinh lọc vì đơn giản là vận mệnh dân tộc đang thực sự bị đe dọa. Anh tò mò quan sát và nhận định rằng xã hội ắt hẳn sẽ có nhiều thay đổi.

(blog Tacke)

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Tóm tắt sơ lược về chiến tranh biên giới Việt Trung từ: 17-2-1979 đến đầu năm 1990, hay còn gọi là cuộc chiến tranh Đông Dương lần 3

Có một nhà văn Nga đã nói: "Một dân tộc có quá nhiều anh hùng là một dân tộc bất hạnh", và Việt Nam có lẽ cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Trong thế kỉ 20 vừa rồi, nếu không tính các cuộc khởi nghĩa vũ trang để chống lại thực dân Pháp và đế quốc Nhật thì thời gian Việt Nam nằm trong khói lửa chiến tranh để bảo vệ quyền được sống của dân tộc là ngót nghét nửa thế kỉ (1945-1990).

Về nguyên nhân của cuộc chiến tranh Việt Trung 1979-1990, cao trào của chiến tranh Đông Dương lần thứ 3, xuất phát sâu xa từ nhiều phía.

Nguyên nhân và hoàn cảnh:

Nguyên nhân khách quan nằm ở sự đổ vỡ của quan hệ Liên Xô - Trung Quốc, vốn là 2 đồng minh CS thân cận của Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và chiến tranh chống Mĩ 1946-1975. (Đông Dương : 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia).

Năm 1953, lãnh tụ Liên Xô Stalin qua đời, Mao Trạch Đông là người lão làng nhất trong thế giới CS nên muốn tranh giành ảnh hưởng vị trí Anh cả Đỏ với Liên Xô. Mao cũng là người tiên phong chống lại phe "Chủ nghĩa xét lại" đứng đầu là Bí thư thứ nhất Nikita Khrubshev của Đảng CS Liên Xô. Căng thẳng dần dần lên cao dẫn tới việc đến đầu những năm 1960, Liên Xô đã rút hết hoàn toàn các chuyên gia của họ từ Trung Quốc về nước và chấm dứt trợ giúp mọi mặt cho Trung Quốc. Hai bên cũng đồng thời đồn trú quân suốt dọc tuyến biên giới dọc từ East Turkestan đến Vladivostok với số lượng đến hàng chục sư đoàn mỗi bên trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu.

Mặc dù vẫn viện trợ đều đặn cho Việt Nam suốt giai đoạn chống Mĩ nhưng đồng thời với việc nhóm lãnh đạo có khuynh hướng thân Nga trong Đảng CS Việt Nam giai đoạn những năm 60,70 ngày càng lớn mạnh và củng cố quyền lực thì viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam cũng ngày một lớn dần so với viện trờ từ phía Trung Quốc. Đồng thời với tình đồng chí gọi là "môi hở răng lạnh" Việt-Trung cũng ngày càng nhạt dần, nhất là sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tháng 9 năm 1969.

Căng thẳng Xô-Trung lên cao đến đỉnh điểm khi đầu tháng 3 năm 1969, Trung Quốc bất ngờ tấn công hòng chiếm đảo Damanski (Trân Bảo) thuộc vùng Amour viễn Đông của Nga, làm khoảng 80 lính biên phòng của Liên Xô thiệt mạng. Cuộc đánh chiếm thất bại và Trung Quốc tổn thất khoảng 600 trăm lính chết và bị thương.

Cùng thời gian này cho tới khi chiến tranh Việt Nam kết thúc tháng 4 năm 1975, mối bất an nghi kị trong ban lãnh đạo Việt Nam với người "đồng chí" Trung Quốc càng lớn. Dù viện trợ to lớn cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ nhưng song song với đó là số lượng Hoa Kiều có mặt tại Hải Phòng, Hà Nội tham gia buôn bán, tiểu thương ngày càng lớn mà người Trung Quốc ở đâu, tai mắt họ ở đó.

Tại mạn biên giới phía bắc thì lấy danh nghĩa giúp Việt Nam làm tuyến đường sắt Lạng Sơn - Nam Ninh, Trung Quốc cũng cho xê dịch nhiều cột mốc biên giới trên toàn tuyến lùi về phía Việt Nam. Các công nhân đường sắt Trung Quốc cũng cho chôn trong mộ giả những thứ mà sau này ít ai ngờ đến: các loại tiểu liên AK47, đạn cối, đạn 12 ly 7 mà đến năm 1979, khi xâm lược Việt Nam, họ đào lên lấy ra dùng.

Ngay trong năm 1956 thì lợi dụng quân đồn trú Pháp rút đi theo hiệp định Geneve, Trung Quốc đã cho quân đổ bộ lên nhóm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (nhóm An Vĩnh) trước khi quân đội Việt Nam Cộng Hoà (nam Việt Nam) kịp đổ bộ lên đóng giữ nhóm phía Tây (nhóm Nguyệt Thiềm), trong sự bất ngờ và bất lực của cả hai chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (bắc Việt Nam) và Việt Nam Cộng Hòa (nam Việt Nam).

Càng về giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam. Mỹ càng lại gần và tìm cách thỏa hiệp với người "đồng chí" Trung Quốc. Cho đến năm 1972, lần lượt ngoại trưởng Kissinger rồi Tổng thống Mỹ Nixon đến thăm Trung Quốc. Các cuộc gặp được thế giới gọi là "Ngoại giao bóng bàn này" đã làm thế đối đầu Trung-Mỹ trong chiến tranh lạnh được dần dần dịu bớt và Mỹ cũng ngầm đạt được thoả hiệp với Trung Quốc trên lá bài Việt Nam vế việc rút quân Mỹ ra khỏi nam Việt Nam.

Sự đề phòng của Việt Nam với Trung Quốc càng có cơ sở khi tháng 1 năm 1974, sau khi đi đêm với Mỹ và chắc chắn được biết Mỹ sẽ không can thiệp giúp đồng minh Việt Nam Cộng Hoà, Trung Quốc đã đổ quân, khiêu khích và chiếm trọn nốt nửa phía tây của quần đảo Hoàng Sa chỉ trong 2 ngày, hơn 40 quân nhân Việt Nam Cộng Hoà tử trận. Một lần nữa, chính phủ cả hai miền nam và bắc Việt Nam khi đó đang trong giai đoạn cuối của cảnh nồi da nấu thịt lại cay đắng bất lực.

Sau khi hai miền nam-bắc Việt Nam thống nhất, mục đích của Trung Quốc đối với Việt Nam như "chia để trị" giống như hai miền Triều Tiên và "đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng", viện trợ cho Việt Nam để "đánh cho Mỹ chảy máu" đã không thành. Trung Quốc ấm ức nhìn hai miền Việt Nam thống nhất dù sau khi thoả hiệp với Mỹ năm 1972 và sau khi Mỹ hoàn toàn rút khỏi miền nam Việt Nam tháng 5 năm 1973, viện trợ của Trung Quốc cho bắc Việt Nam hầu như đã không còn.

Nhìn lại cuốn Hồi kí về chiến dịch Điện Biên Phủ của đại tướng Võ Nguyên Giáp mới thấy được sự thực rằng Trung Quốc đã đi đêm với thực dân Pháp để nghĩ ra cái Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước, đưa nước ta vào thành một cái cối xay thịt mới theo đũng ý đồ "chia để trị" của chúng, dù Trung Quốc đã biết trước Mĩ sẽ chủ tâm phá hoại Hiệp định và không tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thay vì vĩ tuyến 13 chia hai miền theo đúng thực tế chiến trường tại thời điểm sau trận Điện Biên Phủ năm 1954, Trung Quốc kéo lên thành vĩ tuyến 17.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Trung Quốc sử dụng con bài mới tại Đông Dương là tên đồ tể khát máu Polpot đứng đầu chính quyền Khmer Đỏ tại Campuchia giai đoạn 1975-1979. Sau khi lợi dụng sự ủng hộ của quốc vương Shianuk, Polpot chính thức cùng Đảng CS Campuchia nắm quyền tại Phnompenh tháng 5 năm 1975.

Sau hai cuộc chiến tranh Đông Dương (chống Pháp và chống Mĩ), chính thức chấm dứt ngày 30-4-1975 thì chỉ vài ngày sau, ngày 4-5-1975 quân du kích Khmer Đỏ bất ngờ đánh chiếm đảo Thổ Chu và đảo Phú Quốc của Việt Nam. Với sự hậu thuẫn và ủng hộ triệt để về khí giới của Trung Quốc, quân Khmer Đỏ liên tiếp đánh phá, tràn sâu vào khu vực biên giới phía Tây Nam Việt Nam, gây nên các vụ thảm sát, đốt nhà, tàn phá nặng nề các thị trấn làng mạc của Việt Nam trong suốt giai đoạn tháng 5-1975 đến cuối năm 1978, khi Việt Nam phản công lại.Có nơi như thị xã Tây Ninh, quân Khmer Đỏ tràn sâu tới 40km trước khi rút đi, tàn sát hàng ngàn thường dân vô tội. Điển hình nhất là trong tuần cuối cùng tháng 4 năm 1978, quân đội Khmer Đỏ bất ngờ tràn vào xã Ba Chúc, tỉnh An Giang, và thảm sát hơn 3.000 dân thường Việt Nam chỉ trong vài ngày chiếm đóng.

Cũng trong giai đoạn này thì khoảng 2 triệu người Campuchia (1/3 dân số) dưới bàn tay sắt của Polpot đã bỏ mạng vì bị tra tấn, thủ tiêu, bỏ đói ... Với sự dập khuôn 100% cuộc Đại Cách Mạng Văn Hoá của Mao Trạch Đông, đuổi trí thức về nông thông làm ruộng, coi công nông là giai cấp tiên phong, tập thể hoá đến cực đoan tất cả các tư liệu sản xuất, thủ tiêu tất cả các thành phần chống đối và những người hết khả năng lao động, thảm sát tất cả các kiều dân không có dòng máu Khmer ... Camphuchia chỉ trong 3 năm thực sự trở thành một "Cánh đồng chết" theo cách gọi của những nhà sử học sau này và thủ đô Phnompenh hoang tàn được thế giới gọi là Thành phố Ma vì trí thức, tiểu tư sản, người dân trung lưu đều bị dồn về nông thôn làm ruộng, làm thuỷ lợi trong nông trang tập thể.

Trên bình diện quốc tế thì sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, tổng thống mới đắc cử của Mỹ là Jimmy Carter đã có chủ trương ban đầu ngay trong năm 1977 là bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Một loạt các cuộc gặp gỡ cấp ngoại trưởng đã được tiến hành tại Paris và New York, tuy vậy do chủ trương của Bộ chính trị Đảng CS Việt Nam không chấp nhận điều kiện bình thường hoá quan hệ Việt-Mỹ do Mỹ đưa ra là "Vô điều kiện" mà ngược lại, muốn có điều kiện: Bồi thường chiến phí, cam kết tái thiết đất nước v.v.... Nên các cuộc đàm phán Việt Mỹ trong năm 1977, 1978 gặp nhiều khúc mắc khó giải quyết. Ngay giữa lúc đó, tại Trung Quốc, sau cái chết của Mao Trạch Đông năm 1976, đến vụ án Bốn tên và đến năm 1978 thì Đặng Tiểu Bình hoàn toàn khôi phục quyền lực tối cao trong Đảng CS Trung Quốc. Lập tức trong các cuộc tiếp xúc cấp cao Trung-Mỹ trong năm 1978, Đặng gọi Việt Nam là "Cuba của Đông Dương" , rằng Việt Nam âm mưu "tiểu bá" và muốn thay mặt Liên Xô xâm lược toàn cõi Đông Dương.

Một loạt các cuộc vận động hành lang do Đặng thực hiện trong năm 1978 với Mỹ, Nhật, các nước phương Tây và các nước Đông Nam Á. Đến lúc này thì cố gắng bình thường hoá quan hệ Việt-Mỹ đến vòng đàm phán cuối cùng tại New York tháng 11 năm 1978 hoàn toàn đổ vỡ. Mỹ chính thức coi Trung Quốc là đối tác cần phải bắt tay tại khu vực. Cùng với việc Việt Nam gia nhập khối COMECON (khối tương trợ kinh tế gồm Liên Xô và các nước khối CS Đông Âu) cuối năm 1978, tại Đông Dương hình thành hai cực mới: Việt Nam, Lào với đồng minh thân cận là Liên Xô và các nước CS Đông Âu, bên kia là chính quyền diệt chủng Khmer Đỏ của Polpot tại Campuchia do Trung Quốc hậu thuẫn, đứng sau là Mỹ và phương Tây mới bình thường hoá quan hệ hoàn toàn với Trung Quốc.

Cũng phải nói thêm rằng sau năm 1975, nền kinh tế của Việt Nam bị lũng đoạn khá nặng bởi lực lượng Hoa Kiều đông đảo từ Hà Nội, Hải Phòng đến TP HCM. Những người Hà Nội sống tại khu 36 phố phường hẳn đều biết cả dãy phố hàng Ngang hàng Đào ngày các "đồng chí" Trung Quốc sang giúp Việt Nam đào hầm phòng không những năm 60, 70 đông người Hoa làm ăn sinh sống như thế nào.

Lo sợ một nước Việt Nam giờ đây thống nhất rồi sẽ thoát ra khỏi vòng kiềm toả của Trung Quốc, Hoa Nam Tình báo Cục của Bắc Kinh liên tiếp tuyển mộ gián điệp từ lực lượng Hoa kiều đông đảo này, nhằm thu thập tình hình, địa hình, bố trí quốc phòng để lo trước một cuộc xâm lược mới. Ngay từ cuối năm 1977, Việt Nam và Trung Quốc đã chấm dứt hoàn toàn quan hệ ngoại giao, các Đại sứ quán và Lãnh sự quán ở hai nước bị đóng cửa. Đây là đỉnh điểm của chính sách đánh tư sản mại bản nhằm trực tiếp vào Hoa kiều sau tháng 4 năm 1975 và chủ trương trục xuất Hoa Kiều trở lại Trung Quốc trong năm 1978.

Cuối tháng 12 năm 1978, sau hơn 3 năm chịu đựng các cuộc quấy phá và thảm sát suốt dọc biên giới do Khmer Đỏ gây ra với sự hậu thuẫn của Trung Quốc, quân đội Việt Nam dưới sự chỉ huy của đại tướng Lê Trọng Tấn chính thức phản công và nhanh chóng giành chiến thắng ngay trong tháng 1 năm 1979. Tàn quân Khmer Đỏ rút chạy và ẩn náu tại biên giới Thái Lan, đằng sau là các cố vấn Trung Quốc cùng sự trợ giúp triệt để về khí tài để Khmer Đỏ tiếp tục chiến tranh du kích trong suốt thời gian quân đội Việt Nam đóng tại Campuchia để đánh gục đến cùng tàn quân Khmer Đỏ của Polpot.

Nhận thấy đồng minh Polpot bị lật đổ, đồng thời với việc Việt Nam đang tìm cách đưa hoàng thân Shihanuk trở lại nắm quyền để xây dựng một Campuchia Dân Chủ, cỗ máy tuyên truyền khổng lồ của Trung Quốc lập tức lu loa "Việt Nam xâm lược Campuchia" và Việt Nam "vong ân bội nghĩa" vì đã nhận 20 tỷ đô-la viện trợ Trung Quốc trong chiến tranh chống Mỹ v.v...

Cuối tháng 1 năm 1979, Đặng tuyên bố trên truyền thông Trung Quốc cần phải "dạy cho Việt Nam một bài học". Viện cớ điều khoản trong Hiệp định tương trợ Việt-Xô 1978 có ghi "một trong hai bên sẽ sử dụng các biện pháp có thể để trợ giúp nước kia trong trường hợp một trong hai nước bị tấn công", Đặng lu loa Việt Nam âm mưu tiểu bá Đông Dương, cấu kết với Liên Xô hình thành thế bao vây Trung Quốc.

Lấy cớ là "phản công tự vệ", Đặng huy động hai Đại quân khu Quảng Tây và Đại quân khu Côn Minh với quân số tổng cộng lên đến 600.000 người lúc đó trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Mục đích là để trực tiếp buộc quân chính quy của Việt Nam đang đóng tại Campuchia phải rút về phòng thủ tuyến biên giới phía bắc để cứu nguy cho chính quyền diệt chủng Polpot, đồng thời trong khả năng có thể sẽ tiến chiếm Hà Nội để dựng lên một chính quyền thân Trung Quốc do tên phản động Hoàng Văn Hoan lúc này đang tị nạn ở Trung Quốc đứng đầu, thay cho chính quyền của TBT Lê Duẩn. Đặng huênh hoang tuyên bố trên truyền thông trước khi mở màn chiến dịch: "Trung Quốc sẽ ăn sáng tại Hà Nội, ăn trưa tại Huế và ăn tối tại Sài Gòn".

Diễn biến:

Sáng sớm ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc huy động tổng cộng khoảng 25 sư đoàn chính quy (từ 200.000 đến 250.000 quân) bất ngờ đánh chiếm toàn tuyến biên giới dài 1.400 km tại 6 tỉnh biên giới của Việt Nam, khoảng 600 xe tăng và cơ số pháo tương đương, hạm đội Nam Hải với 300 tàu chiến cùng lực lượng không quân Trung Quốc cũng sẵn sàng nếu chiến tranh tổng lực lan rộng.

Dù đã được đồng minh Liên Xô cảnh báo trước về nguy cơ bị tấn công từ biên giới Trung Quốc nhưng Việt Nam đã rất bất ngờ trước mức độ và thời gian nổ súng. Do các lực lượng chính quy và tinh nhuệ nhất của Việt Nam đang làm nhiệm vụ tại Campuchia nên để chống trả lại cuộc xâm lược này của Trung Quốc chủ yếu là các dân quân, địa phương quân, du kích và công an biên phòng cùng một số sư đoàn như sư đoàn 338, 346, sư đoàn 3 Sao Vàng. Tổng cộng phía Việt Nam chỉ có từ 100.000 đến 120.000 quân, chủ yếu là dân quân cho công cuộc phòng thủ này. Cuộc chiến tuy ngắn ngày: chỉ từ sáng 17-2 đến 5-3 năm 1979, và từ 5-3 đến 16-3 cho giai đoạn Trung Quốc rút quân về nước nhưng vô cùng đẫm máu. Ngoài việc đánh chiếm các tỉnh biên giới Việt Nam hòng mở đường tiến về Hà Nội qua hướng Bắc Giang, Trung Quốc còn thực hiện việc phá huỷ đến mức hoàn toàn tất cả các cơ sở hạ tầng, nhà máy, cầu cống, nhà ở, trường học, trạm xá, bệnh viện v.v.... của các tỉnh biên giới Việt Nam.

Ác liệt nhất là trận đánh với Sư đoàn 3 Sao Vàng của Việt Nam tại hướng Lạng Sơn, với quân số đông vượt trội, cùng với sự bất ngờ và chiến thuật biển người thường áp dụng, Trung Quốc cũng chiếm được thị xã Lạng Sơn nhưng tổn thất lớn đến mức ngoài dự kiến. Cũng giống như các cuộc xâm lược phi nghĩa khác, quân Trung Quốc cũng gây ra rất nhiều các tội ác chiến tranh, thảm sát thường dân, hãm hiếp, giết chóc phụ nữ trẻ em. Điển hình như vụ quân Trung Quốc dùng dao chặt tay chân hơn 40 phụ nữ trẻ em tại xã Tổng Chúp, tỉnh Cao Bằng rồi vứt ra bờ suối, quẳng xuống giếng.

Với lợi thế quen thuộc địa hình và kinh nghiệm trong chiến tranh chống Mỹ cùng tinh thần chiến đấu dũng cảm đã thành truyền thống, các lực lượng địa phương quân và du kích Việt Nam đã gây cho phía Trung Quốc những tổn thất rất lớn khiến chúng không tràn xuống được vùng đồng bằng Bắc Bộ, trừ hướng Lạng Sơn.

Đồng minh Liên Xô cũng có những hành động hết sức kịp thời: Hạm đội Thái Bình Dương lập tức phong toả bảo vệ toàn bờ biển Việt Nam, 40 sư đoàn Hồng quân Liên Xô áp sát biên giới Xô-Trung, các máy bay vận tải A-26 bay liên tục từ Nam ra Bắc để chuyển các sư đoàn thuộc quân khu 3 và 4 đang chiến đấu tại Campuchia ra Hà Nội để tiến chiếm các mục tiêu đang trong tay Trung Quốc. Lệnh tổng động viên được ban bố, khắp Hà Nội các hào chiến đấu, hầm chống bom được đào nhanh chóng. Phòng tuyến sông Cầu chốt chặn thị xã Bắc Giang được gấp rút xây cất bởi Quân Đoàn 1, chờ đợi tặng cho bọn xâm lược Trung Quốc những quả đấm thép nếu chúng dám tràn xuống đồng bằng để đánh chiếm Hà Nội.

Với những tổn thất to lớn do quân số trang bị kém, ít kinh nghiệm chiến đấu, phương án tác chiến đạt hiệu quả thấp trong địa hình đồi núi, cộng với sức ép từ biên giới Xô-Trung và từ cộng đồng quốc tế, ngày 5-3 , Trung Quốc buộc phải tuyên bố rút quân. Các đơn vị quân chính quy của Việt Nam được tiếp vận từ Campuchia lên hoàn toàn chưa kịp tham chiến.

Đến 16-3, Trung Quốc đã gần như hoàn toàn rút khỏi các tỉnh biên giới Việt Nam. Tuy vẫn chiếm một số cao điểm sát biên giới để leo thang các cuộc tấn công sau này.

Cuộc chiến chớp nhoáng gần 1 tháng này do Trung Quốc châm ngòi và phát động để "dạy cho Việt Nam một bài học" đã mạng lại cho Trung Quốc thiệt hại nặng về quân số. Theo một số tài liệu phương Tây, Trung Quốc có thể đã mất đến 45.000 quân chỉ trong 1 tháng chiến sự. Theo phía Việt Nam ước tính thì Trung Quốc có thể đã mất 30.000 quân, số bị thương cũng khoảng 30.000, 300 xe tăng T-55 của Trung Quốc bị bắn cháy. Không có sự tham gia của không quân và hải quân của cả hai phía.

Quân Trung Quốc rút về nước nhưng đó cũng mới chỉ là khúc dạo đầu cho cuộc chiến biên giới dai dẳng, âm ỉ kéo dài suốt từ đó đến tận đầu năm 1990 mới thực sự chấm dứt. Cùng với việc rút đi và phá hủy đến mức hoang tàn tất cả những gì do bàn tay con người làm nên tại các tỉnh biên giới, Trung Quốc còn để lại vô số các bãi mìn sát thương, bỏ thuốc độc xuống nhiều giếng nước, đập nát hoặc xê dịch hầu như tất cả các cột mốc biên giới có từ thời Pháp-Thanh về phía Việt Nam. Tại chiến trường Campuchia thì các cuộc đánh phá du kích lẻ tẻ của Khmer Đỏ do Trung Quốc trợ giúp cũng gây cho bộ đội Việt Nam rất nhiều thương vong. Theo số liệu của ông Bùi Tín thì khoảng 52.000 bộ đội Việt Nam đã hi sinh trong tròn 10 năm quân Việt Nam làm nhiệm vụ tại Campuchia. Số bị thương lên đến hơn 200.000, chủ yếu là do mìn sát thương do Trung Quốc cung cấp cho tàn quân Khmer Đỏ.

Song song với việc chiếm giữ các điểm cao trên nằm sát biên giới Việt Nam đã làm cho tình hình biên giới Việt-Trung không ngày nào là ngớt tiếng súng, các vụ xung đột lẻ tẻ, thả biệt kích gián điệp, khiêu khích bộ đội biên phòng Việt Nam, xê dịch cột mốc biên giới hàng đêm, bất ngờ bắn pháo vào các làng mạc thị trấn biên giới của Việt Nam vẫn nổ ra liên tục. Nhận thấy sự yếu kém và kĩ thuật tác chiến lạc hậu sau cuộc chiến mở màn năm 1979, Đặng Tiểu Bình quyết định hiện đại hoá quân đội Trung Quốc, các sĩ quan được gửi đi Mỹ huấn luyện, hệ thống ra đa định vị phát hiện pháo binh được nâng cấp ... Chính điều này đã làm cho Việt Nam đổ thêm nhiều xương máu trong những năm còn lại.

Những tháng giữa năm 1984 cho đến năm 1985, Trung Quốc bất ngờ đánh chiếm dữ dội các cao điểm (mỏm núi) suốt dọc tuyến biên giới huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang.Ác liệt nhất là trận đánh cao điểm 1509 mà phía Trung Quốc gọi là núi Lão Sơn (Lao Shan) tháng 4 năm 1984. Đây là một cao điểm rất quan trọng vì từ đó nhìn ra bao quát được tất cả các vùng xung quanh đến tận thị xã Hà Giang. Sau khi bị Trung Quốc sử dụng lực lượng lớn bất ngờ đánh chiếm, Việt Nam đã điều động quân tái chiếm lại nhưng riêng tại cao điểm 1509, thiệt hại to lớn nhất nhưng lại không thành công. Có đến khoảng gần 2000 liệt sĩ quân đội Nhân dân Việt Nam đã bỏ mình dưới chân cao điểm 1509 và các cao điểm lân cận trong mùa hè năm 1984 cho đến năm 1985.

Ngoài biển khơi cũng không im tiếng súng, sau khi đổ quân chiếm một số bãi đã không người thuộc khu vực quần đảo Trường Sa năm 1988, giữa tháng 3 năm đó, 4 tàu hộ vệ tên lửa của Trung Quốc vô cớ đồng loạt tấn công 3 tàu vận tải của Việt Nam đang canh giữ 3 bãi đá: Gạc Ma, Cô Lin, Len đao, bắn chìm 2 tàu vận tải, phá huỷ nặng nề tàu còn lại. Hơn 70 cán bộ, chiến sĩ hải quân Nhân Dân Việt Nam đã hi sinh chỉ trong ngày hôm đó. Bãi đã Gạc Ma bị mất vào tay Trung Quốc. Đến đầu năm 1990, tình hình tại biên giới Việt-Trung mới chính thức im tiếng súng.

Chiến tranh lạnh đi vào giai đoạn cuối, với việc Liên Xô tan rã, đồng thời Việt Nam rút hết 200.000 quân khỏi Campuchia năm 1989 sau khi Khmer Đỏ đã tan rã hoàn toàn. Đất nước Campuchia với sự trợ giúp của những người lính Hồng quân Đông Nam Á, quân đội nhân dân Việt Nam, đã thoát khỏi nạn diệt chủng tàn bạo không kém gì các KZ của phát xít Đức.

Quan hệ Việt-Trung chính thức trở lại bình thường năm 1992 với cuộc gặp gỡ của đại tướng Lê Đức Anh với lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc tại Thành Đô, Tứ Xuyên.

Vì những lí do địa chính trị rất tế nhị nên cuộc chiến Đông Dương lần thứ 3 này hầu như không được nhắc tới trong sách vở và trên các phương tiện truyền thông nhà nước. Rất nhiều chiến công và tấm gương chiến đấu và hi sinh anh dũng của quân và dân Việt Nam do vậy cũng phải vì nghiệp chung của đất nước mà phải đi vào quên lãng. Như chiến công của tiểu đoàn đặc công 45, đã luồn sâu vào tận tỉnh Côn Minh của Trung Quốc để quấy phá đường tiếp vận của địch, hay một nữ dân quân du kích của ta chỉ cần một khẩu AK47 nhưng đã tiêu diệt nhiều lính lái xe tăng Trung Quốc qua lỗ châu mai trong từng khúc cua, trước khi bị bọn chúng bao vây lùng bắt và giết hại ...

Công hàm Phạm Văn Đồng

Lần đầu tiên một tờ báo của Việt Nam đưa ra giải thích về nội dung bức công hàm gây tranh cãi của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Báo Đại Đoàn Kết của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hôm thứ Tư 20/07/2011 đăng bài 'Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam'. Tờ báo này nói ngay từ đầu bài, rằng việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/09/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là "hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó".

Lâu nay, các kênh chính thống của Trung Quốc bao gồm cả báo chí và truyền thông đã không ít lần nhắc tới bản Công hàm 1958, trong đó ông Phạm Văn Đồng viết Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 'ghi nhận và tán thành' tuyên bố của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý'; đồng thời sẽ "chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển".

Tuy nhiên, bài báo Đại Đoàn Kết phân tích nội dung công hàm này không có nghĩa ông thủ tướng Việt Nam DCCH lúc đó công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà việc mà báo này gọi là "giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ (Trung Quốc)".

Bối cảnh 'phức tạp và cấp bách'

Bài viết của Nhóm Phóng viên Biển Đông trên tờ Đại Đoàn kết phân tích về bối cảnh của bản Công hàm 1958 là thời điểm "có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan".

Trong bối cảnh đó, bản công hàm được giải thích là "đơn giản chỉ là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp", tức "chỉ là những tuyên bố mang tính chính trị và ngoại giao chứ hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý".

Bản Công hàm 1958 được giải thích chỉ có tính chất ngoại giao

Bài báo viết: "Nội dung công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

Các phóng viên cũng phân tích rằng trong lúc đó, về phương diện pháp lý, nước Việt Nam DCCH "không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

Thực tế trước năm 1975, các bên tranh chấp đối với hai quần đảo này là Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines, chứ không có miền Bắc Việt Nam. "Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam DCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp."

Nhóm phóng viên kết luận: ""Về thực chất, công hàm 1958 chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc mà thôi."

Họ cũng đưa ra một nhận xét trực diện là: "Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc".

Lời lẽ và ngôn từ như trên ít thấy trên báo Việt Nam. Mới đây, cũng báo Đại Đoàn Kết đăng bài đả phá báo chí Trung Quốc 'hăm dọa dân tộc'.

Một thời gian nay đã có nhiều kiến nghị của giới trí thức và người dân Việt Nam yêu cầu được cung cấp thêm thông tin về quan hệ với Trung Quốc, nhất là trong liên quan tới các quần đảo ở Biển Đông. Dư luận cũng đòi hỏi được giải thích về bản Công hàm 1958.

Đây là lần đầu tiên trên kênh thông tin chính thức, Công hàm 1958 được mang ra phân tích cặn kẽ.

Vietnam missile range

Tin BBC: Trung Quốc xác nhận bắn hạ vệ tinh

Trung Quốc xác nhận thực hiện vụ thử hỏa tiễn bắn trúng vệ tinh, hành động làm cho cộng đồng quốc tế quan ngại.
Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Liu Jianchao nói có tiến hành vụ thử hỏa tiễn tuy nhiên nói thêm Trung Quốc cam kết "dùng khoảng không vũ trụ vào mục đích hòa bình".
Hoa Kỳ đưa ra thông tin tuần trước nói rằng Trung Quốc đã dùng tên lửa đạn đạo tầm trung phóng từ mặt đất để phá hủy một vệ tinh thời tiết.
Đây là vụ thử bắn chặn mục tiêu trên không gian đầu tiên sau hơn 20 năm.
Trước thứ Ba 23/1 Trung Quốc đã không xác nhận, hoặc từ chối tin đưa về vụ thử hỏa tiễn.
Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ nói rằng ngày 11 tháng Giêng vừa qua một hỏa tiễn của Trung Quốc đã bắn trúng một vệ tinh dự báo thời tiết ở cách trái đất 850km.
Phía Mỹ nói qua vụ thử nghiệm này Trung Quốc cho thế giới thấy họ đang nhắm đến các mục tiêu ngoài trái đất, với ý đồ hoàn thiện kỹ thuật hỏa tiễn dùng vào việc bắn hạ các vệ tinh dân dụng cũng như quân sự trong không gian.
Lập tức các nước phương Tây, trong đó có Mỹ, Anh, Nhật, và Úc đã ra tuyên bố phản đối. Canberra triệu đại sứ Trung Quốc tại Úc, bà Fu Ying, đưa yêu cầu đòi Bắc Kinh giải trình hành động.
Một cường quốc vũ trụ khác, nước Nga, tỏ ý nghi ngờ về vụ thử hỏa tiễn. Nga cho rằng đây chỉ là tin đồn và nếu có thử gì đi nữa, hỏa tiễn của Trung Quốc không có khả năng diệt hạ vệ tinh, hay hỏa tiễn khác trên không gian.
Mục tiêu
Mục tiêu bị phá hủy là một vệ tinh thời tiết của Trung Quốc quỹ đạo quanh trái đất với độ cao khoảng 800 cây số. Vệ tinh này đã hết thời hạn sử dụng. Nên dễ hiểu là phía Trung Quốc có trong tay các thông số về độ cao, vận tốc, và vĩ độ của vệ tinh này.
Cả Nga và Mỹ đều đã ngưng các vụ thử hỏa tiễn bắn hỏa tiễn trong không gian vì rủi ro quá lớn do xác hỏa tiễn gây ra đối với các loại vệ tinh khác, hay các nhà du hành vũ trụ. Số liệu do các nhà khoa học Mỹ công bố nói vụ thử vừa rồi của Trung Quốc đã tạo ra khoảng 800 mảnh vỡ lớn hơn 10cm và 40.000 mảnh vụn đường kính trong khoảng từ 1cm đến 10cm.
Mỹ tiến hành vụ thử (thành công) cuối cùng năm 1985 trong chương trình "chiến tranh giữa các vì sao" khi hỏa tiễn Mỹ bắn trúng vệ tinh có tên là Solwin. Gần đây Mỹ đã chuyển sang kỹ thuật mới, có tên "vũ khí dùng năng lượng trực tiếp" khi dùng tia laser trên không gian để làm liệt vệ tinh.
Các chuyên gia tin rằng Trung Quốc đã dùng tên lửa đạn đạo loại KT-1, được phóng lên và điều khiển từ mặt đất. Một khi đã nằm trong quỹ đạo ổn định, tên lửa này tìm mục tiêu qua hệ thống ra đa được cài đặt bên trong, và nhiều khả năng dùng bộ cảm ứng tia hồng ngoại để nhắm đến mục tiêu.
Ý đồ
Vệ tinh thời tiết bị phá hủy nằm trong nhóm vệ tinh với quỹ đạo bay gần trái đất. Được biết các vệ tinh do thám, tình báo nằm trong nhóm này.
Cao hơn một chút, nằm trong quỹ đạo trung bình, cách trái đất khoảng 20.000 km, là nhóm vệ tinh định vị toàn cầu - GPS.
Đặc tính của các vệ tinh GPS là khi nằm trong quỹ đạo, chúng tiêu thụ ít năng lượng, và với tầm cao đạt được, người ta chỉ cần phóng ba vệ tinh là có thể cung cấp đủ độ bao phủ về dịch vụ cho toàn bộ trái đất.
Chuyên gia quân sự phương Tây nhận mạnh trong chiến tranh thông minh, các vệ tinh GPS có vai trò đặc biệt quan trọng vì chúng là người dẫn đường cho tên lửa cruise nhắm đến mục tiêu. Cạnh đó một số vệ tinh ở tầm cao này có chức năng truyền tải thông tin băng tần rộng (broadband communications).
Và đối với các cuộc chiến thời hiện đại vệ tinh GPS cùng vệ tinh thông tin vừa là át chủ bài, vừa là điểm yếu của quân đội tham chiến. Điểm yếu là nếu như đối phương tìm cách khống chế hoặc bắn hạ các vệ tinh này coi như không có tên lửa cruise bắn mục tiêu với độ chính xác 10m như người ta thấy trong chiến tranh vùng Balkan, và Iraq gần đây. Trong chiến dịch "Iraqi Freedom" 83 phần trăm thông tin giữa các lực lượng liên quân được truyền qua vệ tinh GPS.
Và cuộc bắn thử ngày 11/1 vừa qua, dù chỉ thử nghiệm tên lửa tầm ngắn, người ta tin là Trung Quốc đã phát triển thành công tên lửa đường dài, KT-2 và KT-3, mang theo nhiên liệu đẩy dự trữ có khả năng nhắm đến các mục tiêu ở tầm cao hơn, như các vệ tinh GPS, hay thông tin liên lạc.

Tin BBC
Theo Fox của Hoa Kỳ lịch sử xung đột trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có năm 1988. Phía Trung Quốc đã bị thiệt hại ít hơn Việt Nam, nhưng cũng được coi là một chiến thắng của họ. Với Hải quân Trung Quốc hiện nay họ mạnh hơn tất cả mọi thời đại trước đó. Nhưng nếu chiến sự xảy ra trong năm 2012 thì họ khó có thể dành được một chiến thắng nhanh chóng như trong thế kỷ 20 trước đó. Đó là lực lượng Trung Quốc phải đối mặt với tàu ngầm của Việt Nam, đối mặt với các vũ khí phòng vệ từ trong bờ của Việt Nam, lực lượng không quân hùng hậu được trang bị tên lửa diệt hạm… Nếu xung đột càng kéo dài khả năng xảy ra là Trung Quốc sẽ mất biển Đông.

Theo nhiều nguồn tin quân sự không chính thức, Việt Nam đang xây dựng một căn cứ quân sự liên hợp dưới lòng đất ở miền Bắc được che chở bởi những dãy núi phía trên. Nếu có chiến sự xảy ra, đối phương không thể phá hủy các căn cứ này bằng không lực theo kiểu NATO đánh I-Rắc hay Libya. Các chiến đấu cơ Việt Nam trong tương lai sẽ xuất kích từ lòng đất.